CÂU CHUYỆN VỀ SỰ LIÊN KẾT
Đã từ lâu người ta vẫn tự hỏi về năng lực thực sự của người Việt Nam và lý do vì sao Việt Nam vẫn chưa có những sự phát triển đúng như tiềm năng đáng có. Thực ra, đã có lần người ta nói rằng 1 người Việt Nam có khả năng hơn 1 người Nhật hay Mỹ, nhưng 3 người Việt Nam hợp lại thì chưa chắc bằng chỉ 1 người của họ. Nguyên nhân chính xuất phát từ khả năng liên kết và tương trợ nhau của người Việt trên đường phát triển. Là một kỹ sư viễn thông, tôi xin được nêu ra dưới đây những câu chuyện về sự hợp tác của người Việt trong lĩnh vực tôi quan tâm này.
Câu chuyện thứ nhất: khách hàng gọi điện thoại đường dài từ số cố định thông qua dịch vụ viễn thông quân đội (Viettel) sẽ nhận được một hóa đơn thanh toán và người thu cước phí riêng. Chuyện này được thực hiện độc lập với hệ thống hóa đơn và thu cước của công ty điện thoại (thuộc VNPT). Chuyện này sẽ không có gì đáng nói nếu như cước sử dụng dịch vụ nhiều lúc chỉ vài nghìn đồng. Nếu đem doanh thu này trừ đi những chi phí cố định thì rõ ràng lợi nhuận bị giảm đáng kể.
Câu chuyện thứ hai: hệ thống cáp điện thoại hiện nay được quản lý bởi nhiều đơn vị như VNPT, Viettel, SPT. Mỗi đơn vị có một hệ thống cáp riêng để phục vụ khách hàng của mình mà đâu phải đơn vị nào cũng chiếm được toàn bộ thị trường trên một địa bàn. Việc này dẫn đến sự chằng chịt không đáng có của hệ thống dây cáp.
Câu chuyện thứ ba : cũng như câu chuyện thứ hai, hệ thống cáp truyền hình tại Việt Nam cũng bắt đầu phát triển mạnh mẽ. Với sự phát triển của kỹ thuật, dung lượng của một dây cáp khá lớn và cho phép truyền tải nhiều chương trình. Hiện nay số lượng các kênh truyền hình cáp tại Việt Nam chưa phải là đủ lớn để có thể chiếm hết dung lượng một sợi cáp. Tuy nhien, các công ty cung cấp dịch vụ truyền hình cáp vẫn thích sử dụng hệ thống cáp riêng.
Tóm lại, từ ba câu chuyện kể trên, một kết luận được đưa ra rằng sự liên kết của các công ty Việt Nam chưa cao, dẫn đến một tình trạng lãng phí, tăng giá thành sản xuất, giảm hiệu quả kinh doanh. Vấn đề đặt ra: bao giờ người Việt nhận thức và thay đổi cách làm để phù hợp hơn với xu hướng toàn cầu hóa ?